Các cơ chế tiến hóa

1    Các nhân tố tiến hóa

Quần thể chỉ tiến hóa khi thành phần kiểu gen hay cấu trúc di truyền của quần thể được biến đổi qua các thế hệ, trạng thái cân bằng Hardy-Weinberg bị phá vỡ. Các nhân tố tiến hóa do đó là các nhân tố làm biến đổi tần số các alen hoặc thành phần kiểu gen của quần thể (biến đổi vốn gen của quần thể).

1.1 Đột biến

Đột biến (biến dị sơ cấp) là những biến đổi bất thường, xảy ra vô hướng, riêng lẻ và không xác định trong vật chất di truyền, ở hai mức độ: phân tử và tế bào. Đột biến dẫn đến sự biến đổi đột ngột của một hoặc một số tính trạng; những biến đổi này có thể di truyền cho các thế hệ sau.

Đột biến ở mức độ phân tử là các đột biến gen (đột biến điểm). Các đột biến gen biểu hiện ra kiểu hình ở từng cá thể riêng lẻ, không tương ứng với điều kiện sống, thường là đột biến lặn và có hại cho bản thân sinh vật. Đột biến gen tạo ra alen mới làm tăng số tổ hợp kiểu gen (biến dị thứ cấp), làm biến đổi vốn gen của quần thể, làm cho quần thể giao phối trở thành một kho dự trữ biến dị phong phú, cung cấp nguồn nguyên liệu chủ yếu cho quá trình chọn lọc. Tần số đột biến gen tính trên mỗi gen trong một thế hệ dao động từ 10-6 đến 10-4.

Đột biến ở mức độ tế bào là các đột biến nhiễm sắc thể. Đột biến nhiễm sắc thể là sự biến đổi về cấu trúc hoặc số lượng nhiễm sắc thể, có thể xảy ra ở một cặp nhiễm sắc thể nào đó hoặc ở toàn bộ các cặp nhiễm sắc thể; đột biến này phát sinh có thể do các tác nhân mạnh trong ngoại cảnh (tia phóng xạ, hóa chất, sự biến đổi đột ngột của nhiệt độ, virut, vi khuẩn…) hoặc do những rối loạn trong quá trình trao đổi chất nội bào, dẫn đến sự phân li không bình thường của các cặp nhiễm sắc thể. Đột biến cấu trúc hay đột biến số lượng nhiễm sắc thể đều góp phần làm thay đổi kiểu gen của cá thể và vốn gen của quần thể, do đó trở thành nguồn nguyên liệu cho quá trình chọn lọc. Trong đó, đột biến đa bội thể có ý nghĩa quan trọng trong tiến hóa và chọn giống ở thực vật; đột biến đảo đoạn chỉ làm thay đổi trình tự gen trên nhiễm sắc thể, không làm thay đổi vốn gen nên thường biểu hiện làm tăng tính đa dạng trong loài; đột biến lặp đoạn làm tăng hoặc giảm khả năng biểu hiện kiểu gen; đột biến mất đoạn có thể làm mất các gen có hại cho bản thân sinh vật.

1.2 Di – nhập gen (dòng gen)

Giữa các quần thể lân cận cùng loài có sự cách li không triệt để về mặt di truyền: một số cá thể hoặc giao tử, bào tử phát tán từ quần thể này sang quần thể khác góp phần làm thay đổi vốn gen của quần thể. Hiện tượng di – nhập gen có ý nghĩa quan trọng ở những quần thể có kích thước nhỏ, số lượng cá thể ít vì những thay đổi dù nhỏ trong số lượng cá thể của quần thể đều dẫn tới sự thay đổi về tỉ lệ các kiểu gen và tần số các alen, làm tăng tính đa hình di truyền của quần thể, bổ sung nguồn nguyên liệu cho quá trình chọn lọc tự nhiên.

1.3 Giao phối không ngẫu nhiên

Giao phối không ngẫu nhiên (giao phối gần, giao phối có chọn lựa về giới tính và tự phối) không làm thay đổi tần số alen của quần thể nhưng hạn chế số biến dị tổ hợp và làm thay đổi thành phần kiểu gen theo hướng tăng dần tần số kiểu gen đồng hợp tử và giảm dần tần số kiểu gen dị hợp tử; quần thể có xu hướng phân hóa thành những dòng thuần đồng hợp về tất cả các gen. Kết quả của giao phối không ngẫu nhiên dẫn đến làm nghèo vốn gen của quần thể, giảm sự đa dạng di truyền.

1.4 Chọn lọc tự nhiên

Kế thừa và phát triển quan niệm của Darwin, các nhà tiến hóa hiện đại vẫn xác định chọn lọc tự nhiên là nhân tố tiến hóa cơ bản nhất. Thực chất của chọn lọc tự nhiên không phải là hình thành các đặc điểm thích nghi mà là sàng lọc những kiểu hình do đột biến và biến dị tổ hợp tạo ra và giữ lại những tổ hợp gen thích nghi nhất; chọn lọc tự nhiên là nhân tố quy định chiều hướng và nhịp điệu của quá trình tiến hóa, diễn ra cơ bản ở hai mức độ chủ yếu: cá thể và quần thể đều là đối tượng của chọn lọc tự nhiên.

Ở mức độ cá thể, chọn lọc tự nhiên tác động trực tiếp lên kiểu hình, giữ lại những cá thể mang tổ hợp gen thích nghi và loại bỏ các cá thể mang gen kém thích nghi. Thông qua chọn lọc cá thể mà chọn lọc tự nhiên đã làm biến đổi vốn gen của quần thể theo hướng ngày càng có nhiều kiểu gen thích nghi nhất với điều kiện môi trường xác định, hình thành quần thể thích nghi. Quá trình hình thành quần thể thích nghi xảy ra nhanh hay chậm tùy thuộc vào quá trình phát sinh và tích lũy các gen đột biến ở mỗi loài, tốc độ sinh sản của loài, và áp lực chọn lọc tự nhiên.

Áp lực chọn lọc của môi trường có thể tác động lên quần thể theo nhiều phương thức khác nhau dẫn đến chiều hướng biến đổi và kết quả thích nghi theo những hướng khác nhau. Có ba phương thức chọn lọc tự nhiên phổ biến là chọn lọc kiên định, chọn lọc phân hóa và chọn lọc vận động.

-        Chọn lọc kiên định: Áp lực chọn lọc tác động cả hai chiều, loại bỏ những cá thể có kiểu hình mang tính trạng cực đoan. Kết quả sau nhiều thế hệ chọn lọc tự nhiên củng cố tính trạng có giá trị trung bình.

Ví dụ: Sau những cơn bão, người ta thu thập xác những con chim én bị gió bão quật chết và đo chiều dài sải cánh thì nhận thấy những con bị chết có sải cánh dài hoặc sải cánh ngắn; những con có sải cánh trung bình ít bị gió bão quật chết. Kết quả chọn lọc là quần thể hình thành sải cánh trung bình, thích nghi với điều kiện gió bão của địa phương.

-        Chọn lọc phân hóa: Áp lực chọn lọc tác động loại bỏ những cá thể có kiểu hình trung gian và giữ lại những cá thể mang tính trạng cực đoan. Kết quả sau nhiều thế hệ chọn lọc tự nhiên hình thành những nhóm cá thể có kiểu hình đối lập nhau.

Ví dụ: Trên một hòn đảo luôn có gió thổi mạnh, những loài côn trùng sống trên đảo hoặc không có cánh phải bò trên mặc đất thì ít chịu ảnh hưởng của gió, hoặc phải có cánh đủ mạnh để chịu đựng được sức gió; những cá thể có cánh trung bình dễ bị đào thải. Kết quả của quá trình chọn lọc là hình thành những loài không có cánh bên cạnh những loài có cánh to khỏe.

-        Chọn lọc vận động: Áp lực chọn lọc chỉ tác động theo một chiều hướng xác định. Kết quả sau nhiều thế hệ chọn lọc tự nhiên hình thành dạng mới có kiểu hình khác dạng ban đầu.

Ví dụ: Loài bướm sâu đo trên cây bạch dương Biston betularia ở khu vực đang công nghiệp hóa mạnh mẽ ở thành phố Manchester (Anh) có dạng ban đầu phổ biến là cánh màu trắng hòa lẫn với nền môi trường màu trắng do có nhiều địa y của vỏ cây bạch dương. Quá trình công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng, vỏ cây bị khói bám, địa y bị chết, màu vỏ cây trở nên đen. Sau 30 năm, loài bướm này ở đây phổ biến chỉ có daạng cánh màu đen; dạng cánh màu trắng ban đầu rất hiếm. Người ta lại làm thí nghiệm: Thả 500 bướm đen vào rừng cây bạch dương trồng trong vùng không bị ô nhiễm (thân cây có màu trắng), sau một thời gian tiến hành bắt lại các con bướm ở vùng rừng này thì nhận thấy hầu hết bướm bắt được đều là bướm trắng. Đồng thời, khi giải phẫu dạ dày của các con chim bắt được ở vùng này, người ta thấy chim bắt được bướm đen nhiều hơn hẳn so với bướm trắng.

Chọn lọc tự nhiên làm thay đổi tần số alen nhanh hay chậm tùy thuộc vào quá trình chọn lọc chống lại alen trội hay chọn lọc chống lại alen lặn. Chọn lọc đào thải alen lặn làm thay đổi tần số alen chậm hơn so với trường hợp chọn lọc chống lại alen trội vì alen lặn chỉ bị đào thải khi ở trạng thái đồng hợp tử. Chọn lọc không bao giờ loại hết alen lặn ra khỏi quần thể vì alen lặn có thể tồn tại với một tần số thấp ở trong các cá thể có kiểu gen dị hợp tử. Các loài đơn bội chịu tác động của chọn lọc tự nhiên nhanh hơn các loài lưỡng bội; các loài sinh sản vô tính bằng nguyên phân kém đa dạng hơn về vốn gen nên khi môi trường có biến động dễ bị chọn lọc tự nhiên đào thải hàng loạt.

Chọn lọc tự nhiên không tác động trực tiếp lên từng gen riêng lẻ mà tác động lên từng kiểu hình thích nghi với một điều kiện môi trường xác định nên trong vốn gen của quần thể, bên cạnh những gen có ý nghĩa thích nghi bao giờ cũng tồn tại những gen kém thích nghi. Chọn lọc tự nhiên không thể đem đến sự thích nghi hoàn hảo nhất về mọi mặt mà chỉ giữ lại những đặc điểm thích nghi tương đối.

Ví dụ: Một số quần thể của loài rắn Thamnophis sirtalis có khả năng kháng lại chất độc do con mồi là một loại kì giông nhỏ tiết ra. Chất độc làm liệt dây thần kinh cũng như sự co cơ: những cá thể không có khả năng kháng độc sẽ bị chết ngay khi ăn phải loài kì giông độc này. Tuy nhiên, những con rắn có khả năng kháng lại độc tố này lại có nhược điểm là sau khi ăn kì giông chúng không thể bò nhanh được như những con rắn không có khả năng kháng độc. Do vậy, những con rắn kháng độc lại dễ làm mồi cho các loài ăn rắn.

1.5 Các yếu tố ngẫu nhiên (biến động di truyền hay phiêu bạt di truyền)

Các yếu tố ngẫu nhiên thay đổi tần số alen không theo một chiều hướng nhất định, làm nghèo vốn gen của quần thể, giảm sự đa dạng di truyền. Sự biến đổi một cách ngẫu nhiên về tần số alen và thành phần kiểu gen có ý nghĩa quan trọng đối với những quần thể có kích thước nhỏ, số lượng cá thể ít. Với quần thể có kích thước càng nhỏ thì các yếu tố ngẫu nhiên càng dễ làm thay đổi tần số alen của quần thể và ngược lại. Một quần thể đang có kích thước lớn nhưng do các yếu tố thiên tai hoặc bất kì các yếu tố nào khác làm giảm kích thước của quần thể một cách đáng kể thì những cá thể sống sót có thể có vốn gen khác biệt hẳn với vốn gen của quần thể ban đầu.

2    Các cơ chế cách li trong quá trình hình thành loài

Năm 1942, nhà tiến hóa học Ernst Mayr đã đưa ra khái niệm loài sinh học, theo đó: Loài là một hoặc một nhóm quần thể gồm các cá thể có khả năng giao phối với nhau trong tự nhiên và sinh ra đời con có sức sống, có khả năng sinh sản và cách li sinh sản với các nhóm quần thể khác. Giữa các quần thể lân cận cùng loài có thể có hoặc không có sự di – nhập gen.

Để phân biệt hai quần thể có thuộc cùng một loài hay thuộc hai loài khác nhau, có thể sử dụng các tiêu chuẩn về hình thái, địa lý, hóa sinh, phân tử… hoặc kết hợp cùng lúc nhiều tiêu chuẩn khác nhau. Đối với các loài sinh sản hữu tính, việc sử dụng tiêu chuẩn cách li sinh sản là chính xác nhất, đặc biệt đối với các loài thân thuộc có các đặc điểm hình thái rất giống nhau (loài đồng hình). Nếu các cá thể của hai quần thể có các đặc điểm hình thái giống nhau, sống trong cùng một khu vực địa lí nhưng không giao phối với nhau hoặc có giao phối nhưng lại sinh ra đời con bất thụ thì hai quần thể đó thuộc hai loài. Tuy nhiên, trong thực tế, việc sử dụng tiêu chuẩn cách li sinh sản để phân loại các loài là không đơn giản. Tiêu chuẩn cách li sinh sản cũng không thể ứng dụng đối với các loài sinh sản vô tính.

2.1 Các cơ chế cách li trước hợp tử

Các cơ chế cách li trước hợp tử về bản chất là các yếu tố cách li ngăn cản sự giao phối, ngăn cản sự thụ tinh hình thành hợp tử, bao gồm:

-        Cách li địa lí – sinh thái: Hai quần thể của loài bị chia cắt bởi các chướng ngại địa lí (sông, núi, biển…) hoặc sinh cảnh (gần hay xa bờ nước; nơi ẩm ướt, nơi khô hạn…). Theo thời gian mỗi quần thể tích lũy những đặc điểm thích nghi với điều kiện môi trường khác nhau và không có cơ hội giao phối, không trao đổi gen với nhau nên vốn gen giữa hai quần thể ngày càng khác biệt dẫn đến cách li sinh sản.

-        Cách li sinh học: Các quần thể sinh vật kí sinh trên hai kí chủ khác nhau, ít có cơ hội giao phối với nhau.

-        Cách li mùa vụ (cách li thời gian): Các quần thể sống cùng khu phân bố nhưng sinh sản vào những tháng khác nhau trong năm, sự giao phối bị trở ngại nên cũng không có sự giao phối và trao đổi gen.

-        Cách li tập tính: Tập tính giao phối có ý nghĩa đặc biệt để hai cá thể cùng loài nhận ra nhau, tránh lãng phí năng lượng khi quyến rũ đối tượng. Mỗi loài có tập tính giao phối riêng; sự giao phối khác loài dù cùng khu vực phân bố hiếm khi xảy ra.

-        Cách li cơ học: Sự không phù hợp về kích thước, cấu tạo cơ quan sinh sản sẽ ngăn cản sự giao phối hoặc khả năng thụ tinh hình thành hợp tử.

2.2 Các cơ chế cách li sau hợp tử

-        Hợp tử chết trong giai đoạn phát triển phôi thai: Do khác biệt cấu trúc vật chất di truyền giữa hai loài nên nếu hợp tử có hình thành cũng chỉ phát triển được một giai đoạn ngắn rồi chết.

-        Con lai bất thụ: Do bộ nhiễm sắc thể của hai loài khác biệt về số lượng và cấu trúc nên ở con lai không thể giảm phân tạo giao tử bình thường.

Trong thực tế ít có một cơ chế cách li nào xảy ra riêng lẻ mà thông thường có nhiều cơ chế cách li cùng tác động dẫn đến sự cách li sinh sản giữa các quần thể để hình thành loài mới.

3    Các cơ chế hình thành loài
3.1 Hình thành loài khác khu vực địa lí

Trong quá trình phát triển lịch sử của loài, khi các quần thể sinh sản mạnh, gia tăng dân số và mở rộng khu phân bố của loài thì giữa các quần thể thường bị chia cắt bởi các chướng ngại địa lí và xuất hiện những khác biệt hình thành các quần thể khác khu phân bố. Nếu giữa các quần thể vì các chướng ngại địa lí mà bình thường không giao phối được với nhau nhưng khi có điều kiện giao phối thì vẫn giao phối và sinh sản được thì sự khác biệt đó chỉ là sự đa dạng các biến dị trong cùng loài. Nếu sự trao đổi gen không xảy ra, khác biệt về di truyền đủ lớn để giữa hai quần thể ban đầu sau nhiều thế hệ giờ đã không giao phối được hoặc giao phối nhưng sinh ra con lai bất thụ thì xem như loài mới đã hình thành.

Ví dụ: Mười bốn loài chim sẻ Darwin tìm thấy trên quần đảo Galapagos tạo thành một họ phụ riêng biệt không tìm thấy ở nơi nào khác trên thế giới. Trong số này, có: (1) sáu loài sống trên cây, trong đó có một loài ăn hạt và các loài khác ăn sâu bọ, nhưng giữ acác loài ăn sâu bọ có sự phân hóa về ổ sinh thái; (2) sáu loài sống trên mặt đất, một số loài ăn hạt và còn lại ăn hoa xương rồng; trong số các loài ăn hạt, một số ăn hạt lớn có mỏ lớn, một số ăn hạt trung bình và một số ăn hạt nhỏ có mỏ nhỏ; các loài mỏ lớn có ưu thế hơn vì mỏ lớn có thể mổ được hạt nhỏ dù kém hiệu quả nhưng mỏ nhỏ không thể mổ được hạt lớn;  (3) một loài sống trên đảo Cocos cách khoảng 700 km về phía đông bắc của quần đảo Galapagos và khoảng 500 km từ Panama; đây có thể là loài có nguồn gốc từ quần đảo Galapagos phát tán đi; và (4) một loài sống trên cây nhưng khác với chim sẻ và giống chim nháy trong đất liền.

Giả sử một số cá thể ban đầu đến được một trong các đảo này do gió mạnh từ đất liền, khi tìm được nguồn thức ăn thích hợp chúng có thể sống sót. Ban đầu là giao phối gần, sau đó khi số cá thể đủ lớn, có sự giao phối tự do và ngẫu nhiên, các nhân tố tiến hóa đột biến, chọn lọc tự nhiên… dần dần phát huy tác dụng phân hóa quần thể ban đầu thành những quần thể mới có những khác biệt về chi tiết và tần số alen đặc trưng khác hẳn quần thể gốc trong đất liền. Một số cá thể lại bay đến đảo lân cận và lập đàn mới, tần sốal en trong đàn mới khác biệt với tần số alen của đàn ban đầu. Theo thời gian, các đàn trên các đảo phân li nhiều hơn do đột biến khác nhau, áp lực chọn lọc khác nhau; ngoài ra còn có những biến động di truyền trong một quần thể nhỏ và sự trao đổi gen giữa các quần thể lân cận. Khi sự khác biệt về di truyền đủ lớn thì giữa hai quần thể có thể sống chung trên cùng một đảo nhưng không giao phối với nhau và phát triển thành hai loài riêng biệt. Hai loài sống trên cùng một đảo lại không thể sử dụng chung một nguồn thức ăn nên một trong hai loài mới hình thành buộc phải đổi mới nguồn dinh dưỡng: một số cá thể của loài này lại di cư sang một đảo khác lân cận và trong những điều kiện nhất định lại có thể hình thành loài mới. Sự duy trì thường xuyên áp lực của chọn lọc tự nhiên như thế dẫn đến sự phân hóa giữa các loài chủ yếu là dựa trên sự phân hóa nguồn thức ăn và hình thành đặc điểm thích nghi có liên quan đến cấu tạo, hình dạng mỏ và kích thước cơ thể.

3.2 Hình thành loài cùng khu vực địa lí

Sự hình thành loài không có cách li địa lí (hình thành loài cùng khu phân bố) là con đường hình thành loài ngắn nhất, bao gồm các con đường:

-        Hình thành loài bằng con đường cách li sinh thái: Đối với các loài thực vật hay động vật ít di chuyển, hai quần thể sống trong cùng một khu vực địa lí nhưng thích nghi với những sinh cảnh khác nhau thì qua nhiều thế hệ cũng có thể dẫn đến cách li sinh sản và hình thành loài mới.

-        Hình thành loài bằng con đường cách li tập tính: Sự phân hóa vốn gen trong quần thể dẫn đến sự cách li trong tập tính giao phối, dẫn đến cách li sinh sản và hình thành loài mới.

Ví dụ: Trong một cái hồ ở châu Phi, người ta thấy có hai loài cá rất giống nhau về các đặc điểm hình thái, chỉ khác nhau về màu sắc: một loài màu đỏ và một loài màu xám. Mặc dù cùng sống trong một hồn nhưng chúng không giao phối với nhau. Tuy nhiên, khi các nhà khoa học nuôi các cá thể của hai loài này trong một bể cá có chiếu ánh sáng đơn sắc làm chúng trông cùng màu thì các cá thể của hai loài lại giao phối với nhau và sinh con. Người ta cho rằng thoạt đầu, những cá thể đột biến có màu sắc khác biệt dẫn đến thay đổi về tập tính giao phối, nên các cá thể có cùng màu sắc thích giao phối với nhau hơn (giao phối có chọn lựa) mà ít giao phối với cá thể bình thường. Lâu dần, sự giao phối có lựa chọn này tạo nên một quần thể cách li về tập tính giao phối với quần thể gốc. Có thể nói, hai loài cá này đang trên con đường tách biệt hẳn nhau thành hai loài phân biệt có sự cách li sinh sản.

-        Hình thành loài bằng con đường tự đa bội: Do sự gia tăng đột ngột số lượng nhiễm sắc thể, trong giảm phân hoặc nguyên phân. Các thể đa bội hữu thụ và có thể giao phối với nhau, nhưng khó giao phối với loài lưỡng bội bố mẹ nên có thể xem như một loài mới nếu như nó tồn tại được trong hệ sinh thái và đứng vững trước tác động của chọn lọc tự nhiên.

Ví dụ: Loài Oenothera lamarckiana có 2n = 14 nhiễm sắc thể. Khi Hugo de Vries nghiên cứu cây này thì phát hiện một dạng đột biến mới được ông gọi tên là Oenothera gigas có 28 nhiễm sắc thể. Dạng 4n này cách li sinh sản với loài bố mẹ vì cây lai giữa O.lamarckianaO.gigas là cây 3n bất thụ.

-        Hình thành loài bằng con đường dị đa bội (đa bội khác nguồn): Con đường hình thành loài mới bằng lai xa khác loài và đa bội hóa. Con lai mang hai bộ nhiễm sắc thể 2n của hai loài khác nhau nên còn gọi là thể song nhị bội, do có nhiễm sắc thể cùng cặp đồng dạng nên có thể giảm phân cho giao tử sống sót. Cá thể đa bội khác nguồn có thể giao phối tự do với nhau, nhưng không thể giao phối với các cá thể của loài bố mẹ nên quần thể đa bội khác nguồn được xem là một loài mới. Sự hình thành loài do hiện tượng đa bội phổ biến ở thực vật có khả năng sinh dưỡng, nhưng hiếm thấy ở động vật.

Ví dụ: Loài lúa mì trồng hiện nay Triticum aestivum được hình thành bằng cách lai xa kèm theo đa bội hóa nhiều lần. Ban đầu, loài lúa mì Triticum monococcum (hệ gen AA với 2n = 14) kết hợp với lúa mì hoang dại Aegilops speltoides (hệ gen BB với 2n = 14) cho ra con lai có hệ gen AB với 2n = 14 nhưng bất thụ. Tuy nhiên, do ngẫu nhiên đột biến xảy ra làm tăng gấp đôi số lượng nhiễm sắc thể của con lai, hình thành loài lúa mì Triticum dicoccum với hệ gen AABB, 4n = 28. Loài lúa mì T.dicoccum này lại kết hợp với lúa mì hoang dại Aegilops squarrosa (hệ gen DD, 2n = 14), kết quả được con lai bất thụ có hệ gen ABD với 3n = 21. Một số cây lai lại hữu thụ do đột biến gấp đôi số lượng nhiễm sắc thể, hình thành loài mới là lúa mì Triticum aestivum với hệ gen AABBDD với 6n = 42.

4    Nhịp độ tiến hóa

Trong nửa đầu thế kỉ XX, Julian Huxley (1887 – 1975) là một trong số ít nhà khao học tin tưởng rằng chọn lọc tự nhiên là động lực chính của quá trình tiến hóa và sự tiến hóa diễn ra dần dần theo từng bước nhỏ (tiến hóa tiệm tiến).

Tuy nhiên, cơ chế tiến hóa của sinh giới không phải lúc nào cũng dần dà, chậm chạp bằng từng bước tiệm tiến mà các nhà khoa học cũng ghi nhận được sự tiến hóa đã xảy ra bằng những bước nhảy vọt đáng kể (tiến hóa cân bằng ngắt quãng).

Một ví dụ về cơ chế này là cách giải thích hiện nay được nhiều nhà khoa học chấp nhận về sự xuất hiện loài người có 2n = 46 nhiễm sắc thể từ một dạng tổ tiên chung của người và vượn người hiện đại có 4n = 28 nhiễm sắc thể. Khi nhuộm màu và so sánh cấu trúc bộ nhiễm sắc thể của người hiện đại (Homo sapiens) và tinh tinh (Pan troglodytes), người ta tìm thấy sự tương ứng ở hầu hết các đôi nhiễm sắc thể; các đôi nhiễm sắc thể số 3, 6, 7, 8, 10, 11, 14, 15, 19, 20, 21, 22, và nhiễm sắc thể giới tính X, Y gần như giống hệt nhau giữa người và tinh tinh. Riêng đôi nhiễm sắc thể số 2 ở người có cấu trúc tương tự đôi hai đôi nhiễm sắc thể khác của vượn người đã xảy ra đột biến nối hai tâm động thành một nhiễm sắc thể lớn và mất đi những đoạn ngắn mang những gen ít quan trọng. Đột biến này tạo nên tiền đề quan trọng về vật chất di truyền, làm xuất hiện tổ tiên của loài người hiện đại có dáng đi thẳng trên hai chân và bộ não phát triển.

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: